7 tháng 4, 2011

Viêm ruột thừa

Ruột thừa là một túi nhỏnhô ra hình con giun của manh tràng (đoạn đầu của ruột già ), dài khoảng vài cm. Nó nằm ởphần dưới phải của ổbụng. Viêm ruột thừa (appendicitis) là sự viêm của ruột thừa.


I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM RUỘT THỪA:

Nguyên nhân của sự viêm này thường là nhiễm trùng sau nơi tắc nghẽn của ruột thừa. Ðiều này có thểdo một mảnh phân cứng (sỏi phân ) mắc kẹt ởruột thừa. Thêm vào đó, mô bạch huyết ởruột thừa trởnên bịviêm và gây tắc ruột thừa. Ởnhiều trường hợp, nguyên nhân viêm cụthểvẫn không được biết.

Khác với các tổn thương do chấn thương, viêm ruột thừa là nguyên nhân đau bụng thường gặp nhất cần phải phẫu thuật cấp cứu. Phần lớn các trường hợp viêm ruột thừa xuất hiện ở lứa tuổi từ 11 đến 20, mặc dù nó có thể xuất hiện ở tất cả các nhóm tuổi.

II. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH VIÊM RUỘT THỪA:


Triệu chứng của viêm ruột thừa lúc đầu có thể khó phân biệt với nhễm siêu vi đường ruột mà thường được gọi là viêm dạ dày ruột. Các triệu chứng có thể bao gồm đầy bụng mơ hồ, khó tiêu và đau bụng ít thường được cảm nhận ở vùng quanh rốn (nút lưng quần ).

Khi nhễm trùng nặng hơn, đau trở nên nổi bật hơn ở phần dưới phải của bụng. Bệnh nhân thường có buồn nôn, nôn và biếng ăn. Ðau thường liên tục và ngày càng nặng. Bệnh nhân có thể tiêu chảy, sốt và lạnh run.

Những triệu chứng này tiến triển vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có thể không kể lại thứ tự các triệu chứng được nêu ra ở trên. Vì thế một chẩn đoán viêm ruột thừa chính xác thường có thể gặp khó khăn. Ðiều này có thể đúng ở trẻ em rất nhỏ và ở bệnh nhân già.

Nhiều bệnh cảnh khác có thể giống viêm ruột thừa như viêm dạ dày ruột, sỏi thận, nhiễm trùng tiểu, và một bệnh viêm ruột được gọi là bệnh Crohn. Ở phụ nữ, các bệnh cảnh như u nang buồng trứng và nhiễm trùng khung chậu có thể giống với viêm ruột thừa.

Nếu nhiễm trùng của ruột thừa không được điều trị, ruột thừa sẽ vỡ hoặc thủng. Ðiều này đưa đến các biến chứng như viêm toàn bộ ổ bụng (viêm phúc mạc), hình thành áp xe và tắc ruột.

III. CHUẨN ĐOÁN VIÊM RUỘT THỪA:

Chẩn đoán dựa trên bệnh sửvà khám thực thể, cùng với thửmáu và các xét nghiệm chẩn đoán khác.

Dấu hiệu thực thể điển hình của viêm ruột thừa là đau lan toả ở vùng rốn, và trở nên khu trú tại điểm McBurney nếu ruột thừa viêm tiếp xúc với phúc mạc thành. Điểm này nằm tại điểm 1/3 ngoài của đường nối gai chậu trước trên và rốn, hoặc khoảng bề rộng của bàn tay.

Các phương pháp khác gồm thăm trực tràng bằng ngón tay (hay khám trực tràng qua đường hậu môn) - nếu đau ở phía phải (vị trí bình thường của ruột thừa), nó làm tăng khả năng chẩn đoán viêm ruột thừa.

Các dấu hiệu khác dùng trong chẩn đoán viêm ruột thừa là dấu cơ thắt lưng-chậu (thường ở viêm ruột thừa sau manh tràng), dấu lỗ bịt (trong), dấu Blomberg và dấu Rovsing.

Siêu âm và chụp Doppler cũng là phương tiện phát hiện viêm ruột thừa, nhưng có thể bỏ sót một số trường hợp (khoảng 15%), đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi chưa hình thành dịch, siêu âm hố chậu không cho thấy bất thường mặc dù đã có viêm ruột thừa. Tuy nhiên, hình ảnh siêu âm có thể giúp phân biệt viêm ruột thừa với bệnh cảnh khác có triệu chứng rất giống, được gọi là viêm hạch bạch huyết quanh ruột thừa. Ở những nơi có trang bị CT scan hay chụp cắt lớp, đây là phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng được ưa thích. Phim chụp cắt lớp CT scan thực hiện đúng quy cách có độ phát hiện (độ nhạy) hơn 95%. Ruột thừa viêm biểu hiện trên CT scan là hiện tượng mất tương phản (thuốc nhuộm đường uống) trong ruột thừa và dấu hiệu trương nở hay phù nề của ruột thừa, thường trên 6 mm ở mặt cắt ngang; ngoài ra còn có bằng chứng viêm được gọi là "xe sợi mỡ" ("fat stranding"). Siêu âm cũng đặc biệt có ích trong thăm dò nguyên nhân phụ khoa gây đau bụng ở một phần tư phải dưới ở phụ nữ mang thai vì CT scan không là phương pháp được lưa chọn trong trường hợp này.

IV. ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM RUỘT THỪA:

Nếu viêm ruột thừa được chẩn đoán hoặc rất nghi ngờ, điều trị tốt nhất là phẫu thuật loại bỏ ruột thừa (cắt ruột thừa). Người ta không biết ruột thừa đóng vai trò gì trong cơ thể người và cũng không biết những vấn đề sức khoẻ về lâu dài do việc loại bỏ ruột thừa gây ra.

Cắt ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt bỏ ruột thừa qua nội soi ổ bụng đang được thực hiện bởi vài phẫu thuật viên. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và việc lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất được quyết định tốt nhất bởi phẫu thuật viên dựa trên nền tảng cá nhân.

Nếu ruột thừa không bị vỡ (thủng) tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân thường được cho về nhà trong vòng 1 đến 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ, thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 đến 7 ngày tuỳ vào mức độ trầm trọng của thủng và viêm phúc mạc. Kháng sinh đường tĩnh mạch được cho trong khi nằm viện để giúp tránh nhiễm trùng thêm và tạo áp xe.

Thỉnh thoảng, bệnh nhân có thể không đến bác sĩ cho đến khi viêm ruột thừa đã hiện diện trong nhiều ngày, thậm chí vài tuần. Trong trường hợp này, một ổ áp xe thường được hình thành. Nếu ổ áp xe nhỏ, nó có thể được điều trị ban đầu bằng kháng sinh. Nói chung, ổ áp xe cần phải được dẫn lưu. Nó thường được thực hiện với sự hỗ trợ của siêu âm, hoặc chụp cắt lớp điện toán. Thường không an toàn để loại bỏ ruột thừa khi một ổ áp xe được hình thành rõ. Ruột thừa được loại bỏ từ vài tuần đến vài tháng sau khi ổ áp xe đã hồi phục. Cách này được gọi là cắt ruột thừa lúc nghĩ ( hay cắt ruột thừa thì 2) và thực hiện để tránh đợt viêm ruột thừa khác.

Nhận biết và xử trí viêm ruột thừa ở trẻ em



Triệu chứng của viêm ruột thừa thường bắt đầu bằng sốt nhẹ, đau xung quanh rốn và có thể kèm nôn mửa, tiêu chảy hay táo bón... Khi nghi con bị bệnh này, bạn đừng tự ý cho bé uống thuốc hoặc cho ăn hay uống thứ gì.

Ruột thừa là một cơ quan nhỏ như ngón tay dính với ruột già nằm ở phía dưới bên phải của ổ bụng. Bên trong ruột thừa hình thành một túi cùng thường mở ra vào ruột già. Khi hoạt động mở của chiếc túi cùng này bị cản trở, ruột thừa sưng lên và có thể dễ bị nhiễm trùng bởi vi khuẩn. Nếu ruột thừa bị nhiễm trùng không được cắt bỏ, nó có thể vỡ và truyền vi khuẩn đi, gây nhiễm trùng khắp vùng bụng, dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Viêm ruột thừa thường ảnh hưởng đến trẻ, đặc biệt trong độ tuổi 11-20. Phần lớn các ca bệnh xảy ra từ tháng 5 đến tháng 10. Những trẻ mà tiền sử gia đình có người bị viêm ruột thừa có thể tăng nguy cơ mắc bệnh này, đặc biệt ở bé trai.

Viêm ruột thừa không phải là nguyên nhân thường gây ra đau bụng, nhưng các bậc cha mẹ có khuynh hướng lo lắng nhiều về chứng bệnh này khi nó xảy ra với trẻ. Điều quan trọng là phải biết cách nhận ra các dấu hiệu của căn bệnh này và phân biệt nó với bệnh đau dạ dày để chăm sóc trẻ hợp lý.

Các triệu chứng đặc trưng của viêm ruột thừa:

- Đau bụng dữ dội, đặc biệt vùng quanh rốn hay vùng bụng dưới bên phải (cơn đau có thể bắt đầu xuất hiện rồi hết, sau đó trở thành cơn đau kéo dài và đau nhói).

- Sốt nhẹ.

- Không muốn ăn.

- Buồn nôn và nôn mửa.

- Tiêu chảy (đặc biệt tiêu ít và có nước nhầy).

- Thường xuyên đi tiểu và/hoặc cảm thấy nặng bụng buộc phải đi tiểu.

- Bụng sưng hoặc trương lên, nhất là ở trẻ nhỏ.

Nếu bệnh không được điều trị thì ruột thừa bị viêm có thể vỡ trong vòng 24 đến 27 giờ sau khi các triệu chứng bắt đầu xuất hiện. Nếu ruột thừa bị vỡ, cơn đau ở trẻ có thể lan ra khắp vùng bụng và trẻ có thể bị sốt rất cao.

Nếu nghi ngờ con bị viêm ruột thừa, hãy đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế gần nhất, tuyệt đối không tự ý cho trẻ uống thuốc hoặc cho ăn hay uống thứ gì.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Nhai cơm cho con - trẻ dễ lây viêm dạ dày


Việc nhai mớm cơm của người lớn cho bé dễ khiến bé lây viêm dạ dày nếu người lớn mắc vi khuẩn gây bệnh. Bệnh viêm dạ dày trước tiên sẽ ảnh hưởng đến sự tiêu hóa của bé. Về lâu dài, đây chính là tiền thân của bệnh lý ung thư dạ dày nếu không được điều trị dứt điểm.

Dễ nhầm với các bệnh tiêu hóa khác

Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh lý viêm dạ dày như do nấm, virus, do bệnh nhân dùng thuốc điều trị một bệnh khác có ảnh hưởng đến dạ dày. Nhưng nguyên nhân gâyviêm dạ dày mạn tính là vi khuẩn Helicobacter pylori. Bệnh có thể xảy ra nếu trong gia đình có người bị viêm loét dạ dày tá tràng, hoặc do vệ sinh ăn uống kém.

Theo bác sĩ chuyên khoa 2 - Phạm Mạnh Thân (Bệnh viện Xanh Pôn), khi bị viêm dạ dày, bé thường gặp các triệu chứng như trướng bụng, đầy hơi, đau bụng âm ỉ, rối loạn tiêu hóa, nôn và buồn nôn… Ngoài ra, bé cũng có thể có dấu hiệu xuất huyết tiêu hóa như nôn ra máu, đi ngoài phân màu đen như bã cà phê hoặc máu tươi, thậm chí có những biểu hiện của thiếu máu như da xanh, niêm mạc nhợt nhạt, lòng bàn tay bàn chân trắng nhợt, mệt mỏi, kém ăn, gầy yếu, kém phát triển.

Trong đó, đau bụng là triệu chứng thường gặp nhất; đa số là đau lâm râm vùng bụng trên rốn kéo dài và tái phát. Theo một nghiên cứu đối với các bệnh nhi viêm dạ dày thì hơn 90% bé viêm dạ dày có triệu chứng đau bụng tái phát. Tuy nhiên, khi thấy bé có dấu hiệu đau bụng, cha mẹ lại rất hay nhầm lẫn với các bệnh đường tiêu hóa khác của bé như đau bụng giun, rối loạn tiêu hóa, từ đó dẫn đến những xử trí sai.

Việc điều trị không đúng làm cho bệnh không khỏi mà nguy hiểm hơn, bệnh sẽ tiến triển theo chiều hướng nặng lên.


Dễ dẫn đến ung thư

Viêm loét dạ dày gây ra nhiều tác hại nguy hiểm đến sức khỏe của bé, làm bé không ăn uống được do nôn trớ hoặc chậm tăng cân, đau bụng tái diễn và kéo dài ảnh hưởng đến các sinh hoạt khác. Về lâu dài, nếu không được điều trị dứt điểm, bệnh tiến triển mạn tính sẽ khiến cho dạ dày bị loét đi loét lại, gây ra loạn sản tế bào, tiền thân của bệnh ung thư dạ dày sau này. Vì vậy, khi bé có các triệu chứng trên, cha mẹ cần đưa bé đến bệnh viện để chẩn đoán xác định viêm loét dạ dày tá tràng và điều trị dứt điểm.

Các bác sĩ cũng khuyến cáo, do bệnh lây theo đường ăn uống nên để đề phòng viêm dạ dày ở bé, cha mẹ cần giữ gìn vệ sinh ăn uống, ăn chín, uống sôi, rửa tay trước khi ăn… Ngoài ra, vi khuẩn Hp còn có trong nước bọt, lợi và chân răng của con người. Vì thế, người lớn không nên nhá cơm cho bé ăn. Bởi người lớn có thể mắc vi khuẩn Hp mà không biết, khi nhai thức ăn rồi mớm cho bé ăn, họ sẽ làm bé bị lây bệnh.

Các chuyên gia cũng lưu ý các bậc cha mẹ phải điều trị cho con đủ liều, đúng theo yêu cầu của bác sĩ để tránh hiện tượng nhờn thuốc. Khi bé bị bệnh, nên cho bé ăn uống theo chế độ bồi dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu (tránh dầu mỡ nhiều và các chất có chứa cồn), không nên uống nước ngọt; không ăn các thức ăn không tốt cho niêm mạc dạ dày như dứa, mít, chuối…

Nguồn tin: Sức khỏe và đời sống

Loét dạ dày ở trẻ dễ chẩn đoán nhầm

Loét dạ dày – tá tràng không chỉ là bệnh của người lớn mà gần đây bệnh gặp phổ biến ở trẻ em. Trường hợp bé Nguyễn Thị V., 6 tuổi, ở Sóc Sơn, Hà Nội phải nhập viện vì thường xuyên đau vụng bụng, kèm theo nôn sau khi ăn. Sau khi thăm khám, các bác sĩ Bệnh viện 108 xác định bé V. có một vết loét lớn ở hành tá tràng lâu ngày gây co kéo làm hẹp môn vị khiến ăn không tiêu.

6 tuổi bị cắt 2/3 dạ dày

Dù bé V. ở độ tuổi rất nhỏ nhưng các bác sĩ vẫn phải chỉ định cắt 2/3 dạ dày để điều trị chứng hẹp môn vị do loét dạ dày. Theo lời kể của bố mẹ bé V., mấy tháng trước, bé kêu đau bụng nhưng vì nghĩ con bị đau bụng giun nên gia đình cho uống thuốc tẩy giun và thuốc rối loạn tiêu hoá để trị bệnh. Tuy nhiên, gần đây, bé kêu đau bụng nhiều hơn, cứ ăn vào lại nôn ra nên gia đình mới đưa tới bệnh viện tìm nguyên nhân.

Theo PGS – TS Triệu Triều Dương, Chủ nhiệm Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện 108, nếu trước đây viêm loét dạ dày – hành tá tràng thường chỉ gặp ở người lớn do quá trình ăn uống, sinh hoạt không điều độ tích tụ lâu ngày thì gần đây, bệnh xuất hiện nhiều ở trẻ dưới 15 tuổi. Điều đáng quan tâm là các triệu chứng lâm sàng ở trẻ em thường không giống với người lớn. Ở người lớn, dấu hiệu của bệnh thường là đau âm ỉ thì với trẻ em, đó là những cơn đau dữ dội, lăn lộn giống như bị giun chui ống mật. Vì thế, nhiều bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị như giun chui ống mật hoặc đau bụng do giun.

Bác sĩ Lương Nhất Việt, Trưởng Khoa Phẫu thuật trẻ em Bệnh viện Việt Đức, cho biết triệu chứng của bệnh thường rất mơ hồ,hơn nữa khi trẻ em bị đau bụng, ít ai nghĩ rằng trẻ có thể bị loét dạ dày nên khi được đưa đến bệnh viện, nhiều trẻ đã có biến chứng xuất huyết tiêu hoá, thủng dạ dày, hẹp môn vị…

Nhiều biến chứng nguy hiểm

Giới chuyên môn cho rằng thủ phạm gây loét dạ dày chính là những thói quen xấu trong ăn uống, sinh hoạt, lo lắng học hành, tâm lý căng thẳng, lo âu, chơi trò chơi điện tử quá nhiều, thức khuya… Ngoài ra, cũng phải kể tới vi khuẩn Helicobacter Pylori là một xoắn khuẩn có khả năng sống trong lớp nhầy của dạ dày gây nên bệnh lý loét dạ dày – tá tràng. Theo bác sĩ Việt, bệnh nhân nhập viện và phải chỉ định phẫu thuật do biến chứng loét dạ dày ở Bệnh viện Việt Đức mỗi năm chỉ khoảng vài chục trường hợp nhưng phần lớn đều là những trường hợp nặng.

Theo các bác sĩ, điều nguy hiểm là ở trẻ càng nhỏ, tình trạng viêm loét càng nặng, bệnh diễn tiến nhanh hơn người lớn rất nhiều. Khi vết loét ăn sâu vào lớp cơ của ruột gây chảy máu, thủng dạ dày, nguy hiểm hơn là biến chứng hẹp môn vị khiến trẻ ăn vào lại nôn ra. Khi đã bị hẹp môn vị và thủng dạ dày thì bắt buộc phải điều trị bằng phẫu thuật. “Với những trẻ nhỏ bị cắt dạ dày sẽ hạn chế việc hấp thụ thức ăn và các chất dinh dưỡng, ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ. Vì thế, nếu thấy trẻ bị đau bụng thường xuyên hoặc cơn đau bụng cấp tính dữ dội cần phải đi khám ngay để điều trị kịp thời, hạn chế những biến chứng về sau” – TS Triệu Triều Dương lưu ý./.

Nguồn tin: VOV

6 tháng 4, 2011

Điều trị viêm ruột do phẩy khuẩn

Viêm ruột do phẩy khuẩn là nguyên nhân gây tiêu chảy quan trọng nhất trên toàn thế giới và ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân này chiếm từ 5-14% tổng số ca bệnh tiêu chảy trên toàn thế giới. Nhận biết để phòng và điều trị bệnh là một biện pháp cần thiết, nhất là trong điều kiện thời tiết lũ lụt có thể diễn ra ở nhiều địa phương hiện nay.

Viêm ruột do phẩy khuẩn rất dễ lây nhiễm

Vi khuẩn Campylobacter jejuni và thậm chí cả E.coli là nguyên nhân thường gặp gây tiêu chảy ở người do campylobacter. Đây là vi khuẩn rất đa dạng về các týp sinh học và các týp huyết thanh. Ổ chứa vi khuẩn là động vật, thường là ở gia súc và gia cầm. Đó là chó con, mèo con, các vật nuôi làm cảnh khác, các động vật gậm nhấm và chim, lợn, cừu đều có thể là nguồn lây bệnh cho người. Hầu hết trong thịt sống của gia cầm đều chứa C.jejuni.

Thời kỳ lây truyền kéo dài suốt giai đoạn nhiễm khuẩn, thường từ vài ngày đến vài tuần. Những người không được điều trị kháng sinh có thể đào thải vi khuẩn ra ngoài trong vòng từ 2-7 ngày. Tình trạng mang vi khuẩn tạm thời ít quan trọng về mặt dịch tễ học, trừ những trường hợp đại tiện thiếu tự chủ và trẻ em. Gia cầm và các động vật khác nhiễm khuẩn mạn tính được coi là nguồn lây nhiễm chủ yếu.

Nguyên nhân các vụ dịch xảy ra phần lớn liên quan đến thức ăn và nhất là thịt gia cầm không được nấu chín, sữa không được tiệt khuẩn và nước chưa được lọc sạch.

Các biểu hiện của bệnh đa dạng

Đây là bệnh nhiễm khuẩn đường ruột cấp tính với các đặc điểm điển hình như tiêu chảy, đau bụng, mệt mỏi, sốt, buồn nôn và nôn. Thời kỳ ủ bệnh có thể từ 2- 5 ngày, cũng có thể là từ 1-10 ngày tùy theo thể trạng từng người. Khi mắc bệnh, người bệnh đi ngoài phân lỏng, có nhiều máu hoặc không rõ, lẫn với chất nhầy và có bạch cầu. Có thể có hội chứng giống thương hàn hoặc viêm khớp hoạt tính. Hiếm khi bệnh nhân có sốt cao co giật, hội chứng Guillain- Barré hay viêm màng não. Một số bệnh nhân có biểu hiện giống viêm ruột thừa cấp tính, nhưng cũng có những trường hợp biểu hiện bệnh không rõ ràng. Ở các nước phát triển, trẻ dưới 5 tuổi và thiếu niên có tỷ lệ mắc cao nhất, còn ở các nước đang phát triển, đối tượng chủ yếu là trẻ dưới 2 tuổi, người ta cho rằng sự gần gũi của trẻ với các dạng vật nuôi và kháng thể chưa phát triển hoàn thiện là điều kiện khiến trẻ dễ bị nhiễm bệnh.

Điều trị và phòng bệnh

Là bệnh do nhiễm khuẩn vì vậy sử dụng kháng sinh là biện pháp quan trọng để điều trị. Những trường hợp tiêu chảy nhiều sẽ có chỉ định bù nước và điện giải.

Để phòng bệnh mọi người cần ăn chín, uống nước đã đun sôi, nấu chín kỹ các thức ăn có nguồn gốc từ gia cầm, chỉ uống sữa đã tiệt khuẩn, tránh để thức ăn bị nhiễm bẩn lại sau khi đã nấu chín. Nếu gia cầm, gia súc nuôi mắc bệnh cần phải được điều trị kháng sinh, người tiếp xúc nên mặc quần áo bảo hộ, đi ủng vào chuồng trại. Khi vật nuôi bị ốm vì bất cứ nguyên nhân gì cũng không nên cho trẻ ôm ấp, gần gũi chúng. Nên thực hiện nghiêm chỉnh yêu cầu bàn tay sạch, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh bằng xà phòng tiệt khuẩn. Các chất thải của người và gia cầm, gia súc, vật nuôi phải được tập trung ở những khu cách ly với nơi sinh sống, không chỉ để tránh phát tán các vi khuẩn gây viêm ruột mà còn nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Nếu có người bị nhiễm bệnh, cần đưa đến các cơ sở y tế để được khám, tránh tự ý dùng kháng sinh vì dễ gây ra kháng thuốc và khó khăn cho điều trị khi bệnh tái phát hoặc mắc phải bệnh nhiễm khuẩn khác co chỉ định dùng kháng sinh.

Nguồn tin: Sức khỏe và đời sống

Điều trị viêm ruột thừa

Nếu viêm ruột thừa được chẩn đoán hoặc rất nghi ngờ, điều trị tốt nhất là phẫu thuật loại bỏ ruột thừa (cắt ruột thừa). Người ta không biết ruột thừa đóng vai trò gì trong cơ thể người và cũng không biết những vấn đề sức khoẻ về lâu dài do việc loại bỏ ruột thừa gây ra.

Cắt ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt bỏ ruột thừa qua nội soi ổ bụng đang được thực hiện bởi vài phẫu thuật viên. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và việc lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất được quyết định tốt nhất bởi phẫu thuật viên dựa trên nền tảng cá nhân.

Nếu ruột thừa không bị vỡ (thủng) tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân thường được cho về nhà trong vòng 1 đến 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ, thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 đến 7 ngày tuỳ vào mức độ trầm trọng của thủng và viêm phúc mạc. Kháng sinh đường tĩnh mạch được cho trong khi nằm viện để giúp tránh nhiễm trùng thêm và tạo áp xe.

Thỉnh thoảng, bệnh nhân có thể không đến bác sĩ cho đến khi viêm ruột thừa đã hiện diện trong nhiều ngày, thậm chí vài tuần. Trong trường hợp này, một ổ áp xe thường được hình thành. Nếu ổ áp xe nhỏ, nó có thể được điều trị ban đầu bằng kháng sinh. Nói chung, ổ áp xe cần phải được dẫn lưu. Nó thường được thực hiện với sự hỗ trợ của siêu âm, hoặc chụp cắt lớp điện toán. Thường không an toàn để loại bỏ ruột thừa khi một ổ áp xe được hình thành rõ. Ruột thừa được loại bỏ từ vài tuần đến vài tháng sau khi ổ áp xe đã hồi phục. Cách này được gọi là cắt ruột thừa lúc nghĩ ( hay cắt ruột thừa thì 2) và thực hiện để tránh đợt viêm ruột thừa khác.

Bệnh Viêm Ruột

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiHệ tiêu hóa bao gồm một tập hợp các cơ quan như dạ dày, ruột già, ruột non, trực tràng... có nhiệm vụ chuyển thức ăn thành dưỡng chất và hấp thu các dưỡng chất này vào máu để cung cấp cho cơ thể. Chúng ta hiếm khi chú ý đến hoạt động của chúng trừ khi có trục trặc, chẳng hạn như khi chúng ta bị viêm đường ruột.

Viêm ruột là gì?

Bệnh viêm ruột được cho là gồm 2 căn bệnh mạn tính do viêm đường ruột: bệnh viêm ruột kết gây loét và bệnh Crohn. Mặc dù các căn bệnh này có nhiều đặc điểm chung nhưng giữa chúng cũng có những khác biệt lớn.

Viêm ruột kết gây loét là căn bệnh viêm ở ruột già, còn được gọi là ruột kết. Viêm ruột kết gây loét thường nặng nhất ở vùng trực tràng, có thể gây tiêu chảy thường xuyên, với phân thường có máu và nước nhầy nếu ruột kết bị tổn thương.

Bệnh Crohn thường ảnh hưởng đến phần cuối của ruột non (đoạn cuối ruột hồi). Tuy nhiên, bệnh này không hề giới hạn ở các khu vực này và có thể tấn công bất kỳ bộ phận nào của bộ máy tiêu hóa. Bệnh Crohn gây viêm và ăn sâu hơn vào các lớp của thành ruột, sâu hơn nhiều so với viêm ruột kết gây loét. Nó thường ảnh hưởng tới toàn bộ thành ruột.

Nguyên nhân gây viêm ruột

Các nhà nghiên cứu y học vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây viêm ruột. Họ cho rằng các yếu tố có thể gây bệnh gồm có môi trường, chế độ ăn uống và có thể có cả yếu tố di truyền. Nhiều bằng chứng y học cũng cho thấy thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh Crohn. Tại Mỹ, có trên 1 triệu người mắc bệnh viêm ruột, thường ở những người từ 15-30, tuy nhiên nó có thể ảnh hưởng lên cả trẻ em và người lớn. Theo ghi nhận, số trường hợp mắc bệnh này tại châu Âu và Bắc Mỹ cao hơn nhiều so với các khu vực khác của thế giới.

Dấu hiệu và triệu chứng


Các triệu chứng thường thấy nhất ở cả hai bệnh viêm loét ruột kết và bệnh Crohn là tiêu chảy và đau bụng. Tiêu chảy có thể xảy ra từ mức độ vừa phải cho đến nghiêm trọng (khiến cho bệnh nhân phải chui vào toa-lét từ 20 lần trở lên trong 1 ngày). Nếu tiêu chảy quá nhiều sẽ dẫn tới mất nước, tim đập nhanh và tụt huyết áp. Việc tiếp tục mất một lượng máu nhỏ trong phân cũng có thể dẫn tới thiếu máu.

Táo bón cũng có thể là một trong các triệu chứng của bệnh viêm ruột. Ở bệnh Crohn, táo bón xảy ra như là kết quả của sự tắc nghẽn một phần nào đó ở ruột. Ở bệnh viêm ruột kết gây loét, táo bón có thể là một triệu chứng của viêm trực tràng, còn được gọi là viêm ruột thẳng.

Sốt, mệt mỏi và sụt cân cũng có thể xảy ra ở bệnh nhân viêm ruột do thiếu ăn và mất nước vì tiêu chảy và viêm ruột mạn tính.

Ngoài ra cũng có thể có các vấn đề sức khỏe khác do viêm ruột gây ra xuất hiện bên ngoài hệ tiêu hóa, mặc dù các nhà nghiên cứu y học không biết tại sao có các biến chứng này. Một số người bị viêm ruột có thể có các dấu hiệu của viêm nhiễm ở các nơi khác của cơ thể, như ở các khớp, mắt, da và gan. Ở trẻ mắc bệnh viêm ruột kết gây loét hay bệnh Crohn, bệnh có thể làm trẻ chậm lớn và/hoặc làm cản trở quá trình dậy thì.

Chẩn đoán bệnh viêm ruột

Bệnh viêm ruột có thể khó chẩn đoán do chúng không có các triệu chứng rõ ràng mặc dù bệnh đã qua nhiều năm làm tăng nguy cơ phá hoại ruột. Các triệu chứng nếu có biểu hiện ra lại thường giống với các bệnh khác, do đó gây khó khăn cho các bác sĩ trong việc chẩn đoán bệnh.

Xét nghiệm máu có thể cho thấy các dấu hiệu của viêm hoặc các bất thường ở ống tiêu hóa. Sự gia tăng số tế bào bạch cầu và tỷ lệ lớp cặn có thể là biểu hiện của viêm ruột, cùng với sự giảm albumin, kẽm và magie trong máu.

Để chẩn đoán chính xác bệnh viêm ruột gây loét, thường phải cần kiểm tra ruột kết bằng phương pháp nội soi, cho phép các bác sĩ nhìn thấy mức độ của bệnh. Súc ruột cũng có thể giúp chẩn đoán bệnh. Trong trường hợp bệnh Crohn, chụp X-quang sau khi bệnh nhân uống bari thường cho thấy các dấu hiệu đặc trưng của viêm ở thành ruột.

Điều trị viêm ruột

Điều trị bằng thuốc là phương pháp đầu tiên để làm giảm các triệu chứng của cả bệnh viêm ruột kết gây loét và bệnh Crohn. Hai loại thuốc thường được kê đơn là thuốc chống viêm (như mesalamine, olsalazine và balsalazide) và chất ức chế miễn dịch (như steroids, cyclosporin, azathioprine và kháng thể chống TNF). Chất ức chế miễn dịch có công dụng bảo vệ hệ miễn dịch khỏi sự tấn công của các mô của cơ thể khiến cho viêm nhiễm nặng hơn.

Nếu trẻ bị viêm ruột không có phản ứng với thuốc, có thể sẽ cần đến phẫu thuật. Ở bệnh Crohn, người ta cố gắng thử bằng mọi cách để tránh phẫu thuật do tính chất diễn ra định kỳ tự nhiên của bệnh. Phẫu thuật cũng có thể dẫn đến các biến chứng như hội chứng ruột ngắn - làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng và ảnh hưởng đến sự phát triển. Ở bệnh viêm ruột kết gây loét, cắt bỏ ruột kết (ruột già) là cần thiết.

Theo BSGĐ